Nâng cao năng lực kiểm soát rủi ro tại các Quỹ tín dụng nhân dân

Chứng khoán VPS

Tuy nhiên, hoạt động của các quỹ này còn tồn tại những yếu kém nhất định cần khắc phục. Bài viết phân tích hoạt động và quản lý rủi ro tại các Quỹ Tín dụng nhân dân giai đoạn 2015- 2020 và đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm hạn chế rủi ro, góp phần hoàn thiện cơ chế và quy chế cho hệ thống quản lý Quỹ tín dụng nhân dân.

Tổng quan về Quỹ Tín dụng nhân dân

Theo Hiệp hội các Quỹ tín dụng thế giới (WOCCU), “Quỹ Tín dụng – được gọi dưới nhiều tên gọi khác nhau tại các nước trên thế giới – là các hợp tác xã tài chính được sở hữu bởi chính khách hàng của mình, nhằm cung cấp các dịch vụ tiết kiệm, tín dụng và các dịch vụ tài chính khác cho thành viên. Thành viên của các quỹ tín dụng có mối liên kết chung với nhau, dựa trên các mối quan hệ chung về cộng đồng, nghề nghiệp, tổ chức hoặc tín ngưỡng”.

Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Hợp tác xã năm 2012 của Việt Nam thì “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”. Như vậy, Quỹ Tín dụng nhân dân (TDND) do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng nhằm tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống, đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ…

Hầu hết địa bàn hoạt động của các Quỹ Tín dụng nhân dân là ở vùng nông nghiệp, nông thôn nên mục đích sử dụng vốn vay chủ yếu của khách hàng là chăn nuôi, kinh doanh và buôn bán nhỏ lẻ… khi xảy ra những rủi ro như thiên tai, bão lụt, hỏa hoạn, mất mùa, dịch bệnh… dẫn đến nợ xấu phát sinh lớn gây nên rủi ro tín dụng trong hoạt động của Quỹ Tín dụng nhân dân.

Quá trình hình thành và phát triển mô hình QTD luôn gắn liền với lịch sử phong trào Hợp tác xã (HTX) nói chung và Hợp tác xã tín dụng (HTXTD) nói riêng. Cho đến nay, các HTXTD (hay các tổ chức tín dụng (TCTD) hợp tác) với nhiều loại hình và tên gọi khác nhau như HTXTD, Quỹ TDND, Quỹ Tín dụng và tiết kiệm, Ngân hàng hợp tác xã (NHHTX)… hầu như đã hiện diện ở tất cả các nước trên thế giới. Tuy nhiên, sự khác biệt trong quy mô và trình độ phát triển giữa các loại hình TCTD hợp tác xã ngày càng mờ nhạt khi mô hình này ngày càng phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu.

Thực trạng hoạt động và rủi ro của Quỹ Tín dụng nhân dân

Tính đến nay, tại Việt Nam, có gần 1.200 Quỹ TDND tại 56/63 tỉnh, thành phố với 2.831 xã, phường, thị trấn (chiếm 25,4% số xã, phường, thị trấn trên cả nước) và gần 2,1 triệu thành viên là các hộ gia đình chủ yếu ở khu vực nông nghiệp – nông thôn. QTDNN đã góp phần tích cực trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, hạn chế được tệ nạn cho vay nặng lãi và các hình thức biến tướng của nó ở nông thôn.

Xét về khía cạnh kinh tế, khi so sánh hiệu quả của ngành Ngân hàng với hiệu quả của hệ thống Quỹ TDND, có thể thấy rằng, quy mô của các Quỹ TDND rất nhỏ nhưng hiệu quả sử dụng vốn nhìn chung khá cao, hiệu quả sinh lời của Quỹ TDND cao hơn so với hiệu quả sinh lời của toàn hệ thống.

Xét về mặt xã hội, hệ thống Quỹ TDND góp phần giải quyết các nhu cầu về vốn và các vấn đề tài chính liên quan đến các thành viên và những hộ nghèo.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, các hoạt động của Quỹ TDND đã có biểu hiện xa rời mục tiêu, tôn chỉ hoạt động về mục tiêu liên kết hệ thống, tương trợ, hỗ trợ thành viên, Thông tư số 04/2015/ TT-NHNN quy định về Quỹ TDND đã quy định Quỹ TDND gửi tiền nhàn rỗi tại NHHTX để thực hiện vai trò liên kết hệ thống, kịp thời hỗ trợ thành viên và chỉ được mở tài khoản thanh toán tại TCTD khác không phải là NHHTX để phục vụ hoạt động thanh toán. Tuy nhiên đến ngày 31/3/2019 vẫn còn khoảng 5% số Quỹ TDND (60 Quỹ TDND) có số dư tiền gửi có kỳ hạn tại các TCTD khác mà không phải là NHHTX.

Trong quá trình hoạt động đã xuất hiện các Quỹ TDND vi phạm các quy định của pháp luật. Có thể kể đến một số vụ việc như: Sai phạm tại Quỹ TDND trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (Giám đốc cùng người nhà thâu tóm, chỉ đạo, chi phối toàn bộ hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn, lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân, dẫn đến mất khả năng chi trả); Cho vay một số đối tượng (không phải là thành viên Quỹ), là các cá nhân ngoài địa bàn hoạt động, là chủ một số doanh nghiệp dẫn đến thua lỗ, không có khả năng trả nợ tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa… Điều này dẫn đến số Quỹ TDND được đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt (KSĐB) ngày càng tăng (hiện tại đã có trên 20 Quỹ TDND).

Điều đáng lưu ý là đã có một số Quỹ TDND có tốc độ tăng trưởng “nóng” và có nguy cơ vượt ngoài tầm quản lý, kiểm soát. Cụ thể, 50 Quỹ TDND lớn nhất (chiếm 4,2% tổng số Quỹ TDND) nhưng chiếm gần 40% tổng nguồn vốn của 1.200 Quỹ TDND trong toàn hệ thống. Mặt khác, tuy mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động nhưng bộ máy quản lý điều hành của các Quỹ TDND này lại không theo kịp với yêu cầu phát triển. Số Quỹ TDND được đặt vào tình trạng KSĐB ngày càng tăng. Nguyên nhân chủ yếu là do “rủi ro về đạo đức” của một số bộ phận lãnh đạo và cán bộ quỹ vi phạm các quy định của pháp luật trong hoạt động Quỹ TDND.

Trong khi đó, hoạt động của ban kiểm soát chưa phát huy hết vai trò kiểm tra, giám sát, cảnh báo tại chỗ nên không kịp thời phát hiện được sai phạm, yếu kém của Quỹ TDND. Tình trạng trên cho thấy, khả năng tự giám sát và việc giám sát từ bên ngoài đối với hoạt động của các Quỹ TDND còn thiếu hiệu quả, hệ thống kiểm soát rủi ro tại các Quỹ TDND vốn đã yếu lại dễ dàng bị vô hiệu hóa bởi các cá nhân lãnh đạo Quỹ, dẫn đến nguy cơ rủi ro trong hoạt động của hệ thống Quỹ TDND.

Nguyên nhân các rủi ro của Quỹ Tín dụng nhân dân

Các rủi ro trong hoạt động của các Quỹ TDND bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau:

Nguyên nhân chủ quan

– Chính sách tín dụng: Nhiều Quỹ TDND đã bỏ qua một số bước trong quy trình tín dụng hoặc làm cho đủ thủ tục, cơ chế cho vay đơn giản hóa, tự ý hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng.

– Mô hình QTD chưa hoàn thiện: Mô hình liên kết phát triển hệ thống còn chậm hình thành đã làm hạn chế sự liên kết và hỗ trợ lẫn nhau giảm sức mạnh trong hệ thống.

– Địa bàn hoạt động của QTD riêng lẻ: Đa số các QTD có quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính hạn chế, nhất là vốn điều lệ (Bình quân 01tỷ đồng/quỹ), khả năng huy động vốn khó khăn vì hoạt động ở vùng nông thôn dân cư nghèo, chưa có tập quán giao dịch với QTD, uy tín của QTD bị hạn chế do ảnh hưởng bởi các QTD sai phạm, yếu kém.

– Hoạt động của QTD chưa thực sự an toàn, tiềm ẩn nhiều rủi ro: Rủi ro về khả năng thanh toán, về lãi suất, tài sản. Cho vay chủ yếu dưới hình thức tín chấp. Sự đổ vỡ của một hoặc vài QTD sẽ có nguy cơ phản ứng dây chuyền đến cả hệ thống QTD và hệ thống ngân hàng.

– Công tác tổ chức kiểm tra, kiểm soát: Công tác tổ chức kiểm tra, kiểm soát của các Quỹ TDND nếu quá yếu kém và lỏng lẻo sẽ dẫn đến việc phát hiện và xử lý không kịp thời những trường hợp vi phạm, lợi dụng trong hoạt động cho vay và rủi ro trong hoạt động tín dụng là tất yếu.

– Chất lượng cán bộ Quỹ TDND: trình độ chuyên môn và năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ của QTD đặc biệt là cán bộ tín dụng là người trực tiếp giao dịch với khách hàng, nắm bắt đặc điểm cũng như chất lượng khách hàng, khoản vay. Điều này đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có kiến thức, kinh nghiệm làm việc cũng như khả năng phân tích, dự báo…

Nguyên nhân khách quan

– Môi trường tự nhiên: Hầu hết địa bàn hoạt động của các Quỹ TDND là ở vùng nông nghiệp, thôn nên mục đích sử dụng vốn vay chủ yếu của khách hàng là chăn nuôi, kinh doanh và buôn bán nhỏ lẻ… khi xảy ra những rủi ro như thiên tai, bão lụt, hỏa hoạn, mất mùa, dịch bệnh… dẫn đến nợ xấu phát sinh lớn gây nên rủi ro tín dụng trong hoạt động của Quỹ TDND.

– Môi trường kinh tế: Sự phát triển cạnh tranh trên thị trường chưa thực sự bình đẳng, tốc độ cũng như trình độ phát triển chưa cao dẫn đến việc các cá nhân và tổ chức cũng như các doanh nghiệp không có tiềm lực tài chính đủ mạnh.

– Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý cho hoạt động của các Quỹ TDND còn chưa đầy đủ, dẫn đến thiếu cơ chế xử lý các tình trạng vi phạm và dẫn đến tình trạng nợ xấu quá hạn. Sự bất cập và chồng chéo của các luật hiện hành (hiện tại Quỹ TDND bị chi phối chính bởi 02 Luật TCTD và Luật HTX) khiến các cơ quan hữu quan lúng túng trong việc xử lý tranh chấp về tài sản đảm bảo, các quy định về kế toán, kiểm toán chưa đủ sức mạnh thực hiện sẽ khiến số liệu không đủ cơ sở vững chắc để thẩm định cho vay.

– Từ phía khách hàng: Sự yếu kém trong tổ chức sản xuất và hoạt động kinh doanh của khách hàng: Năng lực tài chính của khách hàng không cao ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Giải pháp quản trị rủi ro của các Quỹ Tín dụng nhân dân

Để nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, góp phần hoàn thiện cơ chế và quy chế cho hệ thống quản lý Quỹ TDND, bài viết đề xuất một số giải pháp gồm:

Thứ nhất, nhận thức đúng về loại hình tổ chức tín dụng HTX. Để mọi người nhận thức một cách đấy đủ đúng đắn về loại hình TCTD kinh tế tập thể này, Nhà nước cần có biện pháp phổ biến tuyên truyền, giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao nhận thức giúp cho người dân hiểu rõ, hiểu đúng về bản chất của mô hình này.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế xây dựng một hệ thống liên kết tín dụng hợp tác hoàn chỉnh. Đây chính là mục tiêu cơ bản và lâu dài mà các thành viên mong muốn khi cùng nhau góp vốn thành lập Quỹ TDND.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ Bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ TDND (Quỹ Bảo toàn), trong đó có cơ chế nộp phí tham gia Quỹ Bảo toàn và việc sử dụng Quỹ Bảo toàn phù hợp với thực tiễn; Tăng cường tính công khai, minh bạch trong sử dụng Quỹ Bảo toàn nhằm nâng cao khả năng hỗ trợ Quỹ TDND khó khăn tạm thời về khả năng chi trả của Quỹ TDND. Đây là giải pháp quan trọng để hỗ trợ các Quỹ TDND khắc phục, vượt qua những khó khăn về tình hình tài chính, đảm bảo sự an toàn trong hoạt động của từng Quỹ TDND cũng như đối với toàn hệ thống.

Thứ tư, đào tạo chuyên sâu đối với đội ngũ làm công tác kiểm tra nội bộ, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng quản lý, giám sát.

Trong bối cảnh hiện nay, để đảm bảo đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, đồng thời khắc phục những vấn đề còn tồn tại, việc hoàn thiện hành lang pháp lý của NHHTX và Quỹ TDND được xem là điểm tựa nhằm phát triển NHHTX và hệ thống Quỹ TDND theo hướng tăng trưởng – an toàn, phát triển – bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Luật các Tổ chức tín dụng 2010 và Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung 2017;

2. Thông tư số 04/2015/TT-NHNN ngày 31/3/2015 quy định về Quỹ Tín dụng nhân dân; Thông tư số 03/2014/TT-NHNN ngày 23/01/2014 quy định về Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân;

3.Thông tư số 21/2019/TT-NHNN ngày 14/11/2019 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định về Ngân hàng hợp tác xã Việt Nam, Quỹ Tín dụng nhân dân và quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

 (*) Hồ Thị Ngọc Tuyền – Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.

Trịnh Thị Thu Dung – Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam.

(**) Bài đăng Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 8/2021 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *