Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại các bệnh viện công lập tự chủ tài chính

Chứng khoán VPS

Tổng quan về quản lý tài chính bệnh viện

Quản lý tài chính (QLTC) trong bệnh viện được xem là việc quản lý toàn bộ các nguồn vốn: Vốn ngân sách nhà nước (NSNN) cấp, vốn viện trợ, vốn vay và các nguồn vốn khác; Tài sản, vật tư của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh (KCB), đào tạo, nghiên cứu khoa học (NCKH), chỉ đạo tuyến…

Vấn đề QLTC tại các bệnh viện của Việt Nam gồm: (i) Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của bệnh viện; (ii) Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao NSNN cấp và các nguồn kinh phí; (iii) Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: Viện phí, bảo hiểm y tế, đầu tư nước ngoài và các tổ chức kinh tế; (iv) Thực hiện chính sách ưu đãi và đảm bảo công bằng về KCB cho các đối tượng ưu đãi xã hội và người nghèo.

Các nhân tố tác động tới quản lý tài chính bệnh viện công lập

Nhân tố khách quan

Cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với bệnh viện công lập (BVCL): Nhóm cơ chế, chính sách tác động trực tiếp đến mở rộng tự chủ tài chính (TCTC) đối với BVCL gồm: Chính sách tài chính công trong lĩnh vực y tế, chính sách tiền lương và thu nhập của người lao động trong BVCL, chính sách quản lý giá dịch vụ y tế (DVYT), chính sách bảo hiểm y tế (BHYT).

Hệ thống pháp luật liên quan đến TCTC đối với BVCL: Hệ thống pháp luật là cơ sở pháp lý để mở rộng TCTC đối với các BVCL. Hệ thống pháp luật càng hoàn chỉnh, càng khả thi bao nhiêu, thì hiệu lực thực thi quyền TCTC của BVCL càng cao bấy nhiêu.

Sự phát triển của thị trường DVYT: Thị trường DVYT là thị trường đặc biệt. Thị trường này cũng có người mua (người sử dụng DVYT) người bán (người cung cấp DVYT), có quan hệ cung – cầu, cạnh tranh và giá cả DVYT. Trong đó, giá cả DVYT hình thành trên thị trường, vừa chịu tác động của quan hệ cung – cầu, vừa phải đảm bảo bù đắp được chi phí để duy trì sự hoạt động của bệnh viện. Song thị trường DVYT liên quan đến sức khỏe, sinh mạng con người trong toàn xã hội. Quan hệ trao đổi giữa người cung cấp DVYT và người sử dụng không giống quan hệ mua bán hàng hóa thông thường ở chỗ là bản thân người cung cấp và người sử dụng không biết chắc chắn dịch vụ đó có đáp ứng nhu cầu hay không.

Vì vậy, người thầy thuốc làm việc không chỉ là trách nhiệm đối với xã hội, mà quan trọng hơn là đạo đức, lương tâm nghề nghiệp. Hơn bất cứ lĩnh vực nào, các hoạt động y tế nói chung và thị trường DVYT nói riêng đòi hỏi cần có sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước.

Điều kiện phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH): Mỗi quốc gia phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và phát triển y tế nói chung, BVCL nói riêng. KT-XH phát triển tạo động lực, nền tảng quan trọng trong việc nâng cao đời sống nhân dân, gia tăng các nguồn lực đầu tư cho BVCL. Khi BVCL phát triển sẽ gia tăng sức khỏe và chất lượng nguồn nhân lực; trở thành động lực thúc đẩy phát KT-XH quốc gia.

Nhân tố chủ quan

– Chiến lược phát triển của BVCL: Chiến lược phát triển đúng đắn được xem như là “kim chỉ nam” dẫn đường cho BVCL phát triển đúng hướng. Tuy nhiên, chiến lược phát triển của mỗi BVCL và trong mỗi giai đoạn là khác nhau ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức huy động, quản lý và sử dụng các nguồn tài chính, nên trong mỗi giai đoạn các BVCL đưa ra cách thức quản lý phù hợp. Theo đó, để QLTC đáp ứng tốt yêu cầu thì cần có chiến lược, kế hoạch và mục tiêu phát triển BVCL phù hợp thực tiễn.

– Khả năng thực hiện TCTC và trình độ quản trị của BVCL: Các BVCL đều thuộc sở hữu nhà nước, được quản lý thống nhất về chuyên môn từ Trung ương đến địa phương theo những tuyến khác nhau. Thực hiện mở rộng TCTC để hoạt động của BVCL thích ứng với cơ chế thị trường, theo mô hình quản trị doanh nghiệp. Tuy mục đích hoạt động của BVCL không vì lợi nhuận, nhưng với tư cách là những đơn vị kinh tế tự chủ không thể không nắm bắt nhu cầu KCB để tăng thêm số lượng và nâng cao chất lượng các DVYT, chủ động khai thác tăng thêm nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp của bệnh viện. Như vậy, có thể nhận thấy điều kiện, khả năng thực hiện TCTC và trình độ quản trị của bệnh viện được xem là nhân tố bên trong ảnh hưởng trực tiếp đến mở rộng TCTC đối với BVCL.

Định hướng tự chủ tài chính đối với các bệnh viện công lập

Nhằm góp phần nâng cao chất lượng bệnh viện đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, vấn đề QLTC theo hướng tự chủ đối với các BVCL cần triển khai theo các nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục giao quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện hơn về hoạt động tài chính cho các BVCL: Đẩy mạnh cơ chế tự chủ chuyển các BVCL từ loại hình tự bảo đảm một phần chi hoạt động thường xuyên sang tự chủ toàn bộ chi hoạt động thường xuyên, tiến tới TCTC để phát huy quyền chủ động sáng tạo trong việc sử dụng nguồn lực tài chính, sắp xếp bố trí nguồn nhân lực.

Thứ hai, đổi mới phương thức phân bổ ngân sách, chuyển cơ chế cấp kinh phí trực tiếp cho các BVCL sang hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng. Việc NSNN phân bổ kinh phí hoạt động thường xuyên cho BVCL căn cứ vào số lượng giường bệnh theo kế hoạch, điều đó dẫn đến các BVCL có tư tưởng trông chờ vào nguồn kinh phí NSNN cấp; việc sử dụng kinh phí nhà nước phục vụ cho công tác KCB cho người dân không có hiệu quả do thất thoát, lãng phí, thậm chí phát sinh tiêu cực, tham nhũng… dẫn đến kinh phí NSNN không đến được người dân là người cuối cùng thụ hưởng từ kinh phí nhà nước.

Thực hiện TCTC đối với các BVCL đồng thời là chuyển từ cấp kinh phí nhà nước theo giường bệnh – đầu vào sang cấp kinh phí trực tiếp cho đối tượng thụ hường là người dân – đầu ra, thông qua việc Nhà nước cấp BHYT cho các đối tượng chính sách được thụ hưởng ưu đãi của Nhà nước trong chăm sóc sức khỏe (CSSK). Các BVCL thực hiện cung cấp các dịch vụ KCB sẽ được thanh toán BHYT để trang trải các khoản chi phí đã bỏ ra. Hướng tới xây dựng lộ trình BHYT toàn dân để hạn chế dần hình thức chi trả viện phí trực tiếp, chuyển sang hình thức chi trả trước thông qua hệ thống BHYT.

Thứ ba, TCTC được thực hiện theo hướng xã hội hóa (XHH) các nguồn lực tài chính. Cùng với sự phát triển KT-XH, nhu cầu CSSK của nhân dân ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng dịch vụ KCB, trong khi đó nguồn lực tài chính của Nhà nước thì có hạn. Do vậy, việc thực hiện TCTC cần gắn với việc phát huy tính chủ động trong việc khai thác đa dạng các nguồn tài chính ngoài ngân sách từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào cung cấp DVYT công thông qua các hoạt động liên doanh, liên kết.

Chính sách XHH hoạt động cung cấp dịch vụ KCB cần quan tâm khuyến khích các BVCL tuyến tỉnh, tuyến huyện ở các vùng nghèo, khó khăn. Cần có chính sách quản lý dịch vụ công – tư trong các bệnh viện thực hiện TCTC; Cung cấp thông tin rõ ràng các nội dung liên quan đến dịch vụ công và dịch vụ tư để bệnh nhân kiểm soát được khoản viện phí phải thanh toán cho bệnh viện.

Thứ tư, TCTC gắn với việc triển khai khung giá DVYT mới trên cơ sở tính đúng, tính đủ, phần nào Nhà nước đã chi thì bệnh viện không thu. Thực tế hiện nay, trong xã hội cũng tồn tại sự khác biệt về thu nhập giữa các bộ phận dân cư, người có thu nhập cao, người có thu nhập thấp. Người giàu có nhu cầu CSSK cao hơn người nghèo, đặc biệt là các dịch vụ KCB chất lượng cao, đòi hỏi máy móc thiết bị hiện đại, tiêu hao vật tư y tế, thuốc, dịch truyền nhiều, chất lượng, tay nghề bác sỹ phải có chuyên môn sâu… Điều này dẫn đến giá dịch vụ KCB chất lượng cao phải cao hơn những dịch vụ KCB thông thường. Do vậy, để đảm bảo tính công bằng giữa các bộ phận người dân tiếp cận DVYT, thì việc TCTC trước hết phải triển khai ban hành giá DVYT sao cho phù hợp với từng đối tượng. Cơ quan quản lý phải hoàn thiện hệ thống văn bản đảm bảo đồng bộ, cụ thể, minh bạch, khả thi trong thanh toán DVYT cho các tầng lớp người dân.

Thứ năm, TCTC đối với BVCL theo hướng giao quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm. Trên cơ sở phân cấp, phân quyền đồng thời quy định cụ thể nghĩa vụ, trách nhiệm của cá nhân, tập thể, nhất là người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về các quy định tài chính của bệnh viện trước cơ quan chủ quan, cơ quan tài chính…

Thứ sáu, thực hiện TCTC gắn với việc xây dựng chính sách ưu đãi để khuyến khích cán bộ y tế làm việc ở các BVCL thuộc các vùng kinh tế khó khăn, tuyến y tế cơ sở từ tuyến huyện trở xuống, góp phần tăng cường cán bộ cho đội ngũ y tế lưu động, y tế tuyến cộng đồng.

Thứ bảy, có những chính sách nhằm tạo sự gắn kết giữa các bệnh viện TCTC toàn bộ và các bệnh viện TCTC một phần (gồm các bệnh viện TCTC một phần thấp và các BVCL TCTC một phần cao), các BVCL ở các vùng miền ở địa phương với các BVCL ở tuyến trung ương.

Thứ tám, tăng cường thanh tra, kiểm tra liên quan việc huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính, nhất là công tác đầu tư mua sắm trang thiết bị y tế, cơ sở hạ tầng… ở các bệnh viện thực hiện TCTC, góp phần giảm thiểu tình trạng trục lợi, đầu tư lãng phí, trùng lắp…

Hoàn thiện công tác quản lý tài chính của các bệnh viện công lập thực hiện tự chủ

Hoàn thiện quản lý thu

Nguồn tài chính của BVCL chủ yếu là từ nguồn NSNN và nguồn thu sự nghiệp y tế. Để thực hiện, TCTC, các bệnh viện cần tìm kiếm các giải pháp tăng nguồn thu, giảm gánh nặng lên nguồn NSNN, cụ thể:

Một là, điều chỉnh giá dịch vụ KCB phù hợp với thu nhập của người dân và tình hình KT-XH đúng theo lộ trình của Chính phủ, đồng thời đảm bảo các khoản chi sự nghiệp, giảm gánh nặng cho nguồn NSNN. Hiện nay, cơ cấu giá dịch vụ KCB áp dụng đối với người bệnh chưa tham gia BHYT và người bệnh KCB BHYT mới xây dựng trên cơ sở chi phí trực tiếp và tiền lương, do đó để bảo đảm cho việc KCB, chăm sóc, điều trị người bệnh và thực hiện các dịch vụ kỹ thuật y tế, chi phí quản lý và khấu hao cần được cơ cấu vào giá dịch vụ KCB, đảm bảo mức thu hợp lý, đáp ứng hoạt động chuyên môn của bệnh viện.

Hai là, xây dựng một bộ tiêu chuẩn định mức kỹ thuật nhằm đánh giá đúng và đủ chi phí để tính toán giá DVYT tế chính xác, phù hợp với tình hình KT-XH của đất nước và thu nhập của người dân.

Ba là, hoàn thiện và đẩy mạnh hợp tác XHH trang thiết bị y tế, đảm bảo nguồn thu dịch vụ đối với các BVCL.

Bốn là, huy động nguồn lực xã hội tham gia công tác XHH y tế để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm phục vụ tốt công tác khám và điều trị bệnh.

Năm là, đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ sự nghiệp đặc thù của các BVCL gồm:

– Đối với công tác KCB: Tổ chức cung cấp dịch vụ KCB, cấp cứu chuyên khoa và các bệnh trong khả năng của bệnh viện, phục vụ công tác CSSK nhân dân; Nghiên cứu, áp dụng, mở rộng quy mô, phạm vi các hoạt động dịch vụ KCB theo đúng quy định…

– Đối với công tác NCKH: Tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ; nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các kỹ thuật mới, phương pháp mới trong hoạt động KCB; Chủ trì tham gia các hoạt động NCKH theo sự phân công của cấp có thẩm quyền; Tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học theo quy định của pháp luật; Thực hiện các chương trình hợp tác NCKH theo quy định.

– Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực y tế: Đào tạo phát triển nghề nghiệp cho cán bộ, viên chức trong bệnh viện và các cơ sở y tế khác có nhu cầu; Hướng dẫn thực hành KCB cho người có văn bằng chuyên môn liên quan đến y tế được cấp hoặc công nhận theo quy định.

– Đối với hoạt động hợp tác quốc tế: Chủ động khai thác, thiết lập các mối quan hệ hợp tác, trao đổi kinh nghiệm và trao đổi chuyên gia về KCB; Xây dựng các dự án đầu tư liên doanh, liên kết với các nước và các tổ chức quốc tế về DVYT theo quy định; Cử cán bộ, viên chức, học viên đi học tập, nghiên cứu, công tác ở nước ngoài; Hợp tác trao đổi tiếp nhận giảng viên, học viên là người nước ngoài đến nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm và học tập tại bệnh viện và ngược lại.

– Đối với công tác quản lý chất lượng bệnh viện: Áp dụng, triển khai và xây dựng kế hoạch từng bước thực hiện theo tiêu chí chất lượng bệnh viện do Bộ Y tế ban hành và các tiêu chuẩn chất lượng khác; Xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng hoạt động bệnh viện; Tăng cường các điều kiện đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ do bệnh viện cung cấp.

– Đối với công tác quản lý bệnh viện: Phát huy điều kiện tự chủ, theo quy định của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch phát triển bệnh viện, tổ chức hoạt động dịch vụ y tế, khoa học, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức và nhân sự, cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế, tài sản cố định phục vụ sự nghiệp y tế; Huy động, quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của bệnh viện theo quy định; Sử dụng nguồn thu từ hoạt động KCB, hợp tác sự ngiệp y tế theo quy định…

Hoàn thiện quản lý chi

Thứ nhất, xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ (QCCTNB) để quản lý, giám sát các khoản chi hoạt động sao cho sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả để nâng cao TCTC, tăng thu nhập cho người lao động.

Để chủ động sử dụng kinh phí hoạt động thường xuyên được giao đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, đơn vị sự nghiệp thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính có trách nhiệm xây dựng QCCTNB làm căn cứ để cán bộ, viên chức thực hiện và Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát chi. Các BVCL khi thực hiện TCTC yêu cầu việc xây dựng QCCTNB phải đảm bảo một số nguyên tắc sau: Nội dung QCCTNB bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức, mức chi thống nhất trong đơn vị, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh phí tiết kiệm có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý.

Thứ hai, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát phù hợp với việc quản lý và vận hành bệnh viện, cơ chế tự chủ tạo thêm quyền cho các BVCL hoạt động hiệu quả. Hàng năm, Ban kiểm soát phải xây dựng kế hoạch năm, kế hoạch trung và dài hạn; kế hoạch kiểm tra cần chỉ rõ nội dung, đối tượng, thời gian kiểm tra và thành viên thực hiện các công việc kiểm tra; khi tiến hành kiểm tra cần có kết quả báo cáo lãnh đạo bệnh viện để khắc phục những tồn tại, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bệnh viện, nâng cao hiệu quả công tác QLTC, tăng khả năng TCTC.

Thứ ba, hoàn thiện chính sách tiền lương, thưởng, phụ cấp đối với thu nhập cho cán bộ nhân viên bệnh viện, đảm bảo mức chi phù hợp với mức tự chủ và sự phát triển trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế. Cùng với đó, sớm nghiên cứu điều chỉnh, sửa đổi và ban hành bổ sung các chế độ phụ cấp ưu đãi dành cho cán bộ y tế phù hợp.

Thứ tư, các BVCL đầu tư trang thiết bị kỹ thuật cao chưa tương xứng với năng lực, trình độ chuyên môn, nhu cầu KCB, nhất là một số trang thiết bị chẩn đoán, kỹ thuật cao, do vậy, cần có cơ chế chính sách về kiểm tra, giám sát tiêu chuẩn chất lượng của máy móc, trang thiết bị y tế, đảm bảo các khoản chi mua sắm tài sản cố định thực hiện đúng quy định, đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng bệnh viện.

Hoàn thiện quản lý trích quỹ từ phân phối chênh lệch thu chi

Nhà nước khuyến khích các đơn vị sự nghiệp tăng thu, tiết kiệm chi, tinh giản biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với NSNN; Căn cứ kết quả tài chính trong năm, đơn vị quyết định tổng mức thu nhập tăng thêm trong năm, như sau: Đối với bệnh viện tự bảo đảm chi phí hoạt động, được quyết định tổng mức thu nhập tăng thêm trong năm theo QCCTNB của đơn vị, sau khi đã thực hiện trích tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi để lập Quỹ Phát triển hoạt động sự nghiệp; Đối với các BVCL tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, được quyết định tổng mức thu nhập tăng thêm trong năm, nhưng tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do Nhà nước quy định, sau khi đã thực hiện trích tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi để lập Quỹ Phát triển hoạt động sự nghiệp…

Hoàn thiện năng lực và vai trò của công tác QLTC

– Đổi mới nhận thức của các nhà QLTC hướng đến tự chủ, gắn tự chủ với trách nhiệm: Trong quá trình đổi mới cơ chế QLTC hướng tới tự chủ, một số cán bộ QLTC vẫn còn tâm lý lo ngại, muốn duy trì cơ chế cũ, chưa muốn chuyển giao quyền tự chủ thực sự cho đơn vị cấp dưới, lo ngại sau khi nâng cao thêm mức tự chủ, kinh phí NSNN cấp cho bệnh viện giảm, chất lượng hoạt động sự nghiệp giảm, sự không công bằng trong phân phối thu nhập.

Vì vậy, đối với đội ngũ cán bộ y tế của các bệnh viện, nhất là cán bộ QLTC cần thống nhất nhận thức về đổi mới cơ chế QLTC của bệnh viện phù hợp với đặc điểm và tính chất hoạt động sự nghiệp trong điều kiện tự chủ. Từ đó, tạo môi trường và động lực khuyến khích các đơn vị và người lao động phát huy tài năng và trí tuệ trong việc cung cấp các dịch vụ công ngày càng hiệu quả hơn. Bên cạnh vấn đề TCTC, vấn đề chịu trách nhiệm cũng cần được các nhà quản lý hiểu và quan tâm, giao quyền tự chủ cao hơn trách nhiệm của các BVCL cũng cao hơn, nhất là các bệnh viện tuyến đầu có yêu cầu chuyên môn cao.

– Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ kế toán – tài chính: Đội ngũ cán bộ là bộ phận quan trọng và không thể hiện của bộ máy kế toán tài chính (KTTC) nói riêng và công tác QLTC nói chung. Năng lực làm việc của đội ngũ cán bộ KTTC sẽ quyết định chất lượng, hiệu quả công tác hạch toán kế toán và QLTC. Vì vậy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ KTTC là yêu cầu khách quan đối với bất kỳ một đơn vị nào trước yêu cầu của cơ chế tài chính mới. Do vậy, để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ KTTC, cần chú trọng thực hiện các giải pháp sau:

+ Hướng dẫn các đơn vị xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, tiêu chuẩn nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ KTTC, từ đó làm căn cứ tuyển dụng cán bộ mới.

+ Có chính sách động viên, khuyến khích cán bộ học tập đáp ứng yêu cầu chuyên môn được giao. Đối với một số cán bộ hiện đang công tác có trình độ nghiệp vụ thấp cần có kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao trình độ.

+ Thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng các chế độ, chính sách mới về QLTC nhất là các văn bản mới liên quan đến cơ chế QLTC hướng đến tự chủ, giúp cán bộ được cập nhật và nghiên cứu thực hiện đúng, hiệu quả các văn bản quản lý của Nhà nước.

+ Tận dụng thế mạnh về năng lực trang thiết bị để nâng cao trình độ của cán bộ đáp ứng yêu cầu của QLTC trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0.

– Sắp xếp và hoàn thiện bộ máy KTTC: QLTC không thể tách rời hoạt động của công tác KTTC. Trong đó, hạch toán kế toán là công cụ đắc lực phục vụ công tác quản lý thông qua việc thu thập xử lý và cung cấp thông tin một cách liên tục, toàn diện cho nhà quản lý. Để thực hiện tốt vai trò và chức năng, bộ máy KTTC ngoài tổ chức một cách khoa học, hợp lý, cần tiếp tục chỉ đạo các đơn vị kiện toàn lại bộ máy KTTC. Đồng thời, hướng dẫn các đơn vị tổ chức công tác KTTC khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc điểm tổ chức và tuân thủ các quy định của chế độ KTTC. Quan tâm thực hiện tốt công tác kiểm toán, trong đó có kiểm toán nội bộ.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và tin học hoá trong QLTC

Việc quản lý nói chung và QLTC ở các BVCL hiện nay ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn hơn cả về chất xám và năng lực của máy móc, thiết bị. Với khối lượng thông tin cần xử lý ngày càng lớn, nếu quá trình xử lý tài chính trong các BVCL được tổ chức theo hình thức phân tán thủ công, không có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và tin học hóa sẽ không đáp ứng được yêu cầu của quản lý trong điều kiện hiện nay.

Vì vậy, công tác QLTC cần được trang bị hệ thống máy móc thiết bị lưu trữ và xử lý thông tin hiện đại, tự động hoá tính toán nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý. Đi đôi với việc trang bị máy móc, thiết bị tin học phục vụ quản lý cần có kế hoạch đào tạo trình độ tin học cho đội ngũ cán bộ làm công tác kế toán, tài chính và cán bộ QLTC…

Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2015), Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập;

2. Chính phủ (2019), Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 19/05/2019 Về thí điểm tự chủ của 4 Bệnh viện thuộc Bộ Y tế;

3. Bộ Y tế (2014), Tự chủ bệnh viện: những thành công, khó khăn, bất cập và bài học kinh nghiệm, Đề tài nghiên cứu tại Bộ Y tế;

4. Đỗ Đức Kiên (2019), Nghiên cứu tác động tự chủ tài chính đến chất lượng bệnh viện công lập tại Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, Đại học Kinh tế Quốc dân;

5. Ngô Thị Hải Anh (2020), Một số giải pháp tăng cường thực hiện cơ chế tự chủ đối với bệnh viện công lập, Nghiên cứu tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

(*) Nguyễn Thị Thanh Thuỷ- Bệnh viện K.

(**) Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 6/2021.

Đánh giá post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *