Quan điểm và định hướng mở rộng cơ sở thu trong Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2020-2030

Chứng khoán VPS

Đặt vấn đề

Thời gian qua, nhằm thích ứng với quá trình toàn cầu hoá và những thách thức từ sự phát triển của nền kinh tế số (KTS), nhiều quốc gia trên thế giới đã có những thay đổi về chính sách thuế. Các nước đã xây dựng các chuẩn mực mới để bảo vệ cơ sở tính thuế và nguồn thu ngân sách nhà nước.

Việc MRCST khi xây dựng pháp luật thuế trong giai đoạn 2021-2030 cần thống nhất quan điểm sau:

– MRCST phải tính đến lợi ích của người nộp thuế, người dân.

– MRCST gắn liền với việc phân tích lợi ích và chi phí.

– MRCST phải vừa phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế và tiếp thu kinh nghiệm của các nước đi trước, đồng thời phải vừa phù hợp với điều kiện thực tiễn và khả năng của Việt Nam.

Theo thống kê của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), giao dịch thương mại nội bộ của các tập đoàn đa quốc gia hiện chiếm trên 30% giá trị thương mại toàn cầu, nên rủi ro trốn, tránh thuế rất cao.

Nguyên nhân của thực trạng này chủ yếu là do xói mòn cơ sở tính thuế (XMCST) thông qua các kế hoạch trốn, tránh thuế, lợi dụng những khoảng trống chính sách về quản lý thuế (QLT) các tập đoàn đa quốc gia thực hiện tăng chi phí khấu trừ và tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế trên phạm vi toàn cầu.

Ngoài ra, sự phát triển của khoa học, công nghệ cũng làm phát sinh nhiều giao dịch kinh tế mới khiến cho các quy định hiện hành chưa kịp thời điều chỉnh hoặc chưa điều chỉnh hết. Chẳng hạn, nền KTS tạo ra các ngành, nghề kinh doanh mới mẻ với các mô hình hoạt động hoàn toàn khác mô hình kinh doanh truyền thống.

Công nghệ điện tử đã tạo ra xu hướng kinh doanh không phụ thuộc giữa người bán – người mua. Các hình thức thanh toán này sẽ được chuyển chủ thể đối tượng thanh toán thành đối tượng thu hộ, chi hộ và hưởng trực tiếp các khoản phí dịch vụ cung cấp. Trong khi đó, quy định của pháp luật hiện hành thường không xem xét bản chất của các hoạt động kinh tế, chưa điều chỉnh hoặc điều chỉnh không hết dẫn đến thất thoát ngân sách, làm XMCST và ảnh hưởng đến tính tự giác tuân thủ của người nộp thuế (NNT).

Từ thực tế trên, để đạt được các mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước, là bao quát toàn bộ nguồn thu, tăng cường hiệu quả cũng như tăng tính chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế (KTQT) và hợp tác quốc tế về thuế, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn hợp tác chống XMCST và chuyển lợi nhuận (BEPS) việc nghiên cứu mở rộng cơ sở thuế (MRCST).

Tầm quan trọng của việc mở rộng cơ sở thu

Thời gian qua, Việt Nam đã đẩy mạnh hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới. Việc trở thành thành viên của các tổ chức KTQT và tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã và đang đem lại cho Việt Nam nhiều lợi ích như: Ưu đãi thuế quan, xóa bỏ các rào cản phi thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Theo cam kết, khi gia nhập các tổ chức KTQT, tham gia các FTA, nhiều mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam giảm thuế theo lộ trình, ảnh hưởng nhất định đến nguồn thu NSNN.

Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2021-2026, nhiệm vụ thu ngân sách dự kiến vẫn tiếp tục tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức do tác động của các yếu tố dịch bệnh, thiên tai, quá trình toàn cầu hóa, nền KTS… Vì thế, cần có nguồn thu khác để bù đắp mức độ thâm hụt NSNN trong những năm tới. Như vậy, việc mở rộng cơ sơ thu trong thời gian tới có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm duy trì hệ thống thu ngân sách bền vững, hiệu quả, góp phần bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển vào năm 2030 và nước phát triển đến năm 2045 theo mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm đề ra tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Do đó, mở rộng cơ sở thu không chỉ bao gồm mở rộng cơ sở thu từ thuế mà còn bao gồm việc mở rộng cơ sở thu từ các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan QLT quản lý thu.

Cơ sở để khai thác nguồn thu mới trong giai đoạn hiện nay

Nền KTS đang tăng trưởng mạnh mẽ, với dự báo sẽ đạt 52 tỷ USD trong năm 2025 (Báo cáo nền KTS năm 2020 của Google, Temasek và Brain & Company đồng thực hiện), đặc biệt là quy mô phát triển của thương mại điện tử xuyên biên giới đối với các dịch vụ KTS theo mô hình từ doanh nghiệp đến người người tiêu dùng như hiện nay, thì đây là dư địa rất lớn cho việc tăng thu NSNN trong nền KTS.

Hiện nay, các quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng (GTGT) và Luật QLT đang thiếu tính đồng bộ trong triển khai thực thi, trong khi pháp luật về QLT đã xác định đối tượng quản lý là nhà cung cấp nước ngoài, nhưng đối tượng thu trong luật thuế GTGT chưa được quy định. Bên cạnh đó, những khái niệm về xác định cơ sở thường trú của nhà cung cấp nước ngoài trong môi trường số chưa được xác định cụ thể làm căn cứ pháp lý cho thu Thế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).

Thuế thu trên tài sản ở Việt Nam mặc dù đã hình thành từ lâu (Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế thu nhập đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, lệ phí trước bạ), nhưng, các sắc thuế và phí liên quan đến tài sản hiện nay chưa phát huy được vai trò là công cụ của Nhà nước để điều tiết các hành vi trong xã hội, chưa hạn chế được tình trạng đầu cơ bất động sản và chưa phát huy được vai trò điều tiết thu nhập của tổ chức và cá nhân trong xã hội. Mặc dù, trước đây, Bộ Tài chính đã đưa ra quan điểm về sự cần thiết và dự thảo về Luật thuế tài sản nhưng đến nay vẫn chưa có đề xuất chính thức dự án Luật thuế tài sản đến Quốc hội.

Hiện Việt Nam đã thu thuế bảo vệ môi trường (BVMT) đối với các sản phẩm, hàng hóa gây ô nhiễm môi trường theo quy định tại Điều 3, Luật Thuế BVMT năm 2010. Đây là sắc thuế gián thu đánh vào người tiêu dùng (NTD) cuối cùng và được thu thông qua các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế BVMT. Sắc thuế này nhằm mục đích để hạn chế NTD sử dụng hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, khuyến khích sử dụng sản phẩm thay thế, thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay đặt ra là cần đánh thuế BVMT.

Quan điểm và định hướng cải cách thuế giai đoạn 2021-2030

Quan điểm về mở rộng cơ sở thuế

MRCST trong xây dựng chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2021-2030 là nhiệm vụ thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công nhằm bảo đảm nền tài chính Quốc gia an toàn, bền vững. Theo đó, việc MRCST khi xây dựng pháp luật thuế trong giai đoạn 2021-2030 cần thống nhất quan điểm sau:

– MRCST phải tính đến lợi ích của người nộp thuế, người dân.

– MRCST gắn liền với việc phân tích lợi ích và chi phí.

– MRCST phải vừa phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế và tiếp thu kinh nghiệm của các nước đi trước, đồng thời phải vừa phù hợp với điều kiện thực tiễn và khả năng của Việt Nam.

Như vậy, khi lựa chọn MRCST, ngoài việc bổ sung các nguồn thu mới, đối tượng mới bảo đảm cho NSNN từ các chính sách thuế mới, cần có các giải pháp QLT đồng bộ để bảo đảm hiệu lực hiệu quả trong tổ chức thực thi quy định pháp luật.

Định hướng cải cách thuế đến năm 2030

Trên cơ sở hiện trạng của hệ thống pháp luật hiện hành và dự địa về các nguồn thu mới trong thương lai, ngành Thuế Việt Nam có thể nghiên cứu MRCST theo hướng sau:

Mở rộng cơ sở thu từ các sắc thuế hiện hành: MRCS thu từ các các sắc thuế hiện hành là việc xem xét, đánh giá các yếu tố của cơ sở thuế như: Đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, mức độ miễn giảm đối với các khoản thu nhập được ưu đãi đầu tư… để mở rộng số lượng đơn vị chịu thuế và mở rộng giá tính thuế. Cụ thể như:

– Đối với thuế GTGT: Thu hẹp đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT. Khi thu hẹp đối tượng không chịu thuế GTGT, cần sử dụng công cụ khác để thực hiện chính sách xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Theo đó, để giải quyết chính sách xã hội với những đối tượng nhất định, nên điều chỉnh các chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ tín dụng gắn với trợ giúp kỹ thuật, đầu tư vào kết cấu hạ tầng nhằm tạo thuận lợi cho môi trường sản xuất, kinh doanh…

– Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB): Bổ sung vào đối tượng chịu thuế TTĐB đối với một số hàng hóa, dịch vụ thuộc nhóm cao cấp, qua đó, giúp mở rộng điều tiết thuế vào thu nhập của một bộ phận dân cư có thu nhập từ mức khá trở lên.

– Đối với thuế BVMT: Bổ sung vào diện chịu thuế BVMT đối với pin, các loại thuốc bảo quản thực vật, vì đây là hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, cần đánh thuế BVMT để hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng hợp lý.

– Đối với thuế TNDN: Cần nghiên cứu thu hẹp diện ưu đãi thuế TNDN. Theo đó, nên bỏ ưu đãi vì mục tiêu xã hội trong chính sách thuế TNDN. Đồng thời, rà soát và chỉ giữ lại ưu đãi thuế TNDN, vì mục tiêu điều tiết và phân bổ nguồn lực kinh tế đối với những trường hợp đặc biệt có ý nghĩa quan trọng cho phát triển kinh tế.

– Đối với thuế thu nhập cá nhân (TNCN): Giảm bớt một số khoản thu nhập được trừ không tính vào thu nhập chịu thuế và các khoản thu nhập miễn thuế để vừa MRCST, vừa đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập. Đồng thời, duy trì mức giảm trừ gia cảnh trong một thời gian thích hợp trong tương lai.

MRCST từ các sắc thuế mới: MRCS thu từ việc hình thành các sắc thuế phù hợp với các nguốn thu mới trong tương lại, cụ thể như:

– Nghiên cứu xây dựng dự án Luật Thuế tài sản: Việc nghiên cứu đánh thuế tài sản là phù hợp với yêu cầu hội nhập KTQT, góp phần tăng cường quản lý việc sử dụng tài sản sản của tổ chức, cá nhân; đồng thời, có thêm nguồn lực đầu tư trở lại đất đai, điều tiết một phần nhỏ thu nhập của tổ chức, cá nhân có nhiều tài sản nhà, đất góp phần đảm bảo công bằng xã hội, tạo nguồn thu ngân sách ổn định chi cho phát triển hạ tầng và an sinh xã hội.

– Nghiên cứu xây dựng dự án Luật Thuế kỹ thuật số: Đây là sắc thuế đánh vào các công ty công nghệ nước ngoài phát sinh thu nhập hay kinh doanh trong môi trường mạng tại Việt Nam. Việc nghiên cứu dự án thuế này nhằm bảo đảm nguyên tắc trung lập của thuế, không phân biệt giữa mô hình kinh doanh truyền thống với kinh doanh thương mại điện tử.

– Nghiên cứu xây dựng dự án Luật thuế khí thải: Khác với thuế BVMT (thuế gián thu), thì thuế khí thải là sắc thuế trực thu đánh vào các doanh nghiệp phát thải ra khí carbon ảnh hưởng đến tầng khí quyển như: các nhà máy điện chạy bằng than, các công ty hầm mỏ, các doanh nghiệp sản xuất kim loại như nhôm, thép… Đây không chỉ khai thác nguồn thu mới mà còn là phương tiện để Nhà nước kiểm soát lượng khí thải carbon mà không cần dùng đến các đòn bẩy của nền kinh tế chỉ huy, qua đó có thể kiểm soát các phương tiện sản xuất và hạn chế phát thải carbon.       

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tài chính (2020), Đề án “Mở rộng cơ sở thuế và chống xói mòn nguồn thu ngân sách nhà nước giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2025”;

2. Lê Xuân Trường (2017), Mở rộng cơ sở thuế: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Tài chính số kỳ 1 tháng 8/2017;

3. Lê Xuân Trường (2021), Định hướng cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2021-2030;

4. OECD (2013), Action Plan on Base Erosion and Profit Shifting, OECD Publishing;

5. OECD/G20 BEPS Project, Tax Challenges Arising from Digitalisation – Interim Report 2018.

(*) ThS. Nguyễn Tiến Kiên – Vụ Hợp tác quốc tế (Tổng cục Thuế); ThS. Nguyễn Chiến Thắng – Ban Cải cách và Hiện đại hoá (Tổng cục Thuế).

(**) Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 5/2021

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *