Ban hành quy chế kiểm tra về ứng dụng công nghệ thông tin tại các đơn vị thuộc Bộ Tài chính

Chứng khoán VPS

Quy chế trên áp dụng với tất cả các đơn vị, cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ CNTT, quản lý, sử dụng trang thiết bị, sản phẩm, dịch vụ CNTT bằng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước, các nguồn thu được để lại theo chế độ, các nguồn tài trợ, viện trợ (nếu không có điều kiện ràng buộc), các nguồn hợp pháp khác đều phải tuân thủ và thực hiện công tác kiểm tra CNTT theo quy định của Nhà nước và các quy định tại Quy chế này.

Quy chế nêu rõ, nguyên tắc kiểm tra CNTT là đảm bảo không chồng chéo về nội dung, đối tượng, thời kỳ kiểm tra giữa các đơn vị với các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Đồng thời, thực hiện công khai chương trình, kế hoạch, kết quả, kết luận và các kiến nghị kiểm tra theo quy định.

Công tác kiểm tra đảm bảo tính độc lập, trung thực và khách quan; đúng trình tự, nội dung, thời gian theo quy định; chấp hành nghiêm túc các chính sách, chế độ quy định của Nhà nước và hướng dẫn của Bộ Tài chính; đảm bảo về bảo mật thông tin được kiểm tra theo quy định. Các kết luận, kiến nghị phải đảm bảo tính chính xác, cụ thể, rõ ràng và khách quan. Các nội dung tồn tại, sai phạm phải có căn cứ, nêu cụ thể nguyên nhân, trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân có liên quan và biện pháp khắc phục. Công tác kiểm tra phải thực hiện tối thiểu một lần trong thời gian 03 năm đối với các đơn vị cấp Tổng cục.

Theo Quy chế, có 2 hình thức kiểm tra CNTT gồm: kiểm tra theo kế hoạch và kiểm tra đột xuất. Trong đó, kiểm tra theo kế hoạch thực hiện theo kế hoạch hằng năm được có thẩm quyền phê duyệt. Kiểm tra đột xuất không nằm trong kế hoạch hằng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt, được thực hiện theo yêu cầu của Bộ trưởng, Thủ trưởng đơn vị các cấp hoặc theo yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng theo quy định của pháp luật.

Nội dung kiểm tra bao gồm việc kiểm tra toàn diện hoặc kiểm tra theo chuyên đề. Cụ thể, kiểm tra toàn diện là xem xét, đánh giá công tác tổ chức triển khai hoạt động ứng dụng CNTT trên các mặt: cộng tác xây dựng, hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách; công tác quản lý đầu tư, thuê dịch vụ triển khai ứng dụng CNTT; công tác quản lý, vận hành, sử dụng trang thiết bị kỹ thuật, hạ tầng mạng, đường truyền; công tác an toàn, bảo mật hệ thống CNTT công tác khai thác, sử dụng các phần mềm ứng dụng, cơ sở dữ liệu, Cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử; công tác đào tạo, tập huấn về CNTT và các nội dung khác có liên quan đến CNTT. Trong khi đó, kiểm tra theo chuyên đề là việc kiểm tra một số nội dung theo từng lĩnh vực phục vụ yêu cầu quản lý về CNTT.

Trong công tác tự kiểm tra nội bộ về CNTT, Quy chế quy định, thủ trưởng các đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện công tác tự kiểm tra hoạt động ứng dụng CNTT trong nội bộ đơn vị theo đúng quy định, phải xây dựng kế hoạch hằng năm và thường xuyên tự kiểm tra nội bộ đối với các bộ phận, các quy trình quản lý của đơn vị. Tất cả cán bộ, công chức, viên chức các đơn vị trước, trong và sau quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn phải thường xuyên thực hiện rà soát, tự kiểm tra trong công tác quản lý theo nhiệm vụ chuyên môn được giao.

Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ chỉ đạo toàn diện công tác tổ chức triển khai nhiệm vụ kiểm tra CNTT trong các đơn vị thuộc Bộ Tài chính; chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác kiểm tra CNTT đối với các đơn vị thuộc Bộ Tài chính.

Bộ trưởng phê duyệt kế hoạch, kết quả kiểm tra CNTT hằng năm của Bộ Tài chính; quyết định các cuộc kiểm tra đột xuất do Bộ Tài chính thực hiện. Đồng thời, Bộ trưởng phê duyệt và chỉ đạo chuyển hồ sơ cho các đơn vị chức năng thuộc Bộ tiến hành thanh tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật, các đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức vi phạm được phát hiện qua kiểm tra CNTT; xử lý các tồn tại, sai phạm được phát hiện qua kiểm tra thuộc thẩm quyền.

Thủ trưởng các đơn vị, cá nhân có liên quan thuộc Bộ Tài chính có trách nhiệm tổ chức triển khai tự kiểm tra nội bộ hoạt động triển khai ứng dụng chính CNTT tại đơn vị mình theo đúng kế hoạch được duyệt; chỉ đạo công tác kiểm tra CNTT trong phạm vi đơn vị. Tổng hợp kế hoạch và kết quả kiểm tra CNTT nội bộ hằng năm báo cáo Bộ trưởng.

Thủ trưởng các đơn bị có biện pháp chỉ đạo, tổ chức rà soát, kiểm tra chéo giữa các bộ phận quản lý hoặc kiểm tra tuần tự các quy trình quản lý, triển khai CNTT của đơn vị; chỉ đạo cán bộ tự kiểm tra thường xuyên nhiệm vụ chuyên môn được giao. Ban hành quyết định, kết luận, kiến nghị kiểm tra theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm về các quyết định, kết luận, kiến nghị của mình.

Đối với các kết luận tự kiểm tra nội bộ, thủ trưởng các đơn vị xử lý các tồn tại, sai phạm trong quá trình quản lý, xử lý về hành chính và công vụ đối với các cán bộ, công chức vi phạm theo phân cấp. Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm kiến nghị với Bộ xử lý các tồn tại sai phạm không thuộc thẩm quyền; giải quyết khiếu nại đối với các kết luận, kiến nghị kiểm tra của Thủ trưởng các đơn vị cấp dưới; cung cấp, giải trình đầy đủ, kịp thời các nội dung, tài liệu, số liệu phục vụ kiểm tra CNTT, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Bộ về tính đầy đủ, trung thực, hợp lý của các nội dung, tài liệu, số liệu đã cung cấp.

Cũng theo Quy chế, thủ trưởng các đơn vị, cá nhân có liên quan thuộc Bộ Tài chính được bảo lưu ý kiến giải trình về các kết luận, kiến nghị kiểm tra; được quyền kiến nghị với cơ quan quản lý cấp trên đối với các kết luận, kiến nghị kiểm tra không đúng quy định, không đảm bảo khách quan.

Bộ Tài chính yêu cầu thủ trưởng các đơn vị có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện Quy chế trong đơn vị, hệ thống; quán triệt, phổ biến nội dung Quy chế cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, Ban Thanh tra Nhân dân (nếu có) và các tổ chức quần chúng của đơn vị để tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát công tác kiểm tra CNTT theo quy định.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *